Free Forums with no limits on posts or members.
InvisionFree - Free Forum Hosting
Welcome to K47B-khoa Luật ĐHQGHN. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Name:   Password:
<%

Free Forums with no limits on posts or members.
InvisionFree - Free Forum Hosting
Welcome to K47B-khoa Luật ĐHQGHN. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Name:   Password:

%>
 

 Nhô Giáo Trong Phap Luật Tương Lai, tiến sĩ PHẠM DUY NGHĨA
xetraaudaayr
Posted: Nov 13 2004, 10:59 AM


~@ Bụi đời @~
Group Icon

Group: Moderator
Posts: 225
Member No.: 13
Joined: 31-August 04



NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI PHÁP LUẬT VIỆT NAM



Phạm Duy Nghĩa(*)


Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió băo đánh đổ bẹp xuống” [14, tr.7], tưởng như đă hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lư Tây phương, liệu có c̣n giá trị đáng kể ǵ trong cuộc kiến thiết hệ thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ c̣n day dứt người đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước đầu nghiên cứu vai tṛ và giới hạn của pháp luật trong những phương cách tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật, cũng như đưa ra một vài thiển ư góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày càng gần hơn với cuộc đời.

I. Đi t́m một chủ thuyết cho pháp luật Việt Nam đương đại

Các giáo tŕnh nhà nước và pháp luật đại cương ngày nay thường hối hả phổ biến những phương thức tổ chức kinh tế, xă hội từ Cộng sản Nguyên thuỷ, xă hội Nô lệ, xă hội Phong kiến, xă hội Tư bản, xă hội Xă hội Chủ nghĩa và tiến tới Cộng sản Chủ nghĩa, thậm chí có lúc “cố gọt bỏ thực tế của dân tộc ḿnh để làm sao nhét nó vào được cái khuôn khổ đă có sẵn ấy” [16, tr.14]. Từ thuyết đó, nảy sinh ra các kiểu nhà nước, các kiểu pháp luật. Khi cắt nghĩa nhà nước và pháp luật, người ta dựa vào triết lư pháp quyền phương Tây, mà không bắt nguồn từ triết lư sống của người Việt Nam về vũ trụ, con người và xă hội. Có những tư duy mới được vay mượn vào nước ta, ví dụ “nhà nước pháp quyền”, nếu chưa biết quy nạp vào đâu, th́ cứ theo công thức sáo ṃn ấy, không ít người suy luận bừa rằng đó cũng là một kiểu nhà nước. Tuy nhiên giới học thức đúng đắn đă bắt đầu tỉnh ngộ; “pháp luật không chỉ là công cụ” trong tay người cầm quyền [5, tr.177].

Nếu cứ theo khuôn khổ đó, th́ điều ǵ là riêng biệt trong lịch sử phát triển nhà nước và pháp luật Việt Nam. Bên cạnh nền văn hoá Trung Hoa, nền văn hoá pháp luật Việt Nam có những đặc sắc ǵ? Hết thảy những điều này đều cần có lời giải đáp, bởi con người hành xử theo thói quen, tập tục, bản tính, tâm thức của dân tộc ḿnh. Sau chiến tranh lạnh, ư thức hệ tư tưởng không c̣n là hố ngăn con người. Tự do thương mại toàn cầu làm cho pháp luật được hài hoà hoá ngày càng nhanh. Trong bối cảnh đó, níu giữ lấy bản sắc văn hoá dân tộc, trong đó có văn hoá pháp lư, trở nên hệ trọng, hệt như giữ lấy sự độc lập quốc gia trước sự xâu xé của thực dân trong thế kỷ XIX. Muốn giữ quốc tuư và rửa nhục nghèo nàn cho đất nước, mượn cách nói của cụ Lương Văn Can (bảo quốc tuư, tuyết quốc sỉ), người học luật nước ta trước hết phải hiểu và t́m cách tôn vinh văn hoá pháp lư và triết học pháp quyền của dân tộc ḿnh.

Con người suy nghĩ như thế nào th́ hành xử như vậy. Muốn hiểu luật pháp và cách thức tổ chức xă hội Việt Nam, phải hiểu lịch sử h́nh thành tư tưởng Việt Nam. Chỉ có như vậy mới giải thích được cái mà người Việt Nam tôn kính, yêu quư, căm ghét hoặc sợ hăi; mới hiểu cung cách mà người Việt Nam tổ chức các sinh hoạt của ḿnh - cung cách sinh hoạt đó chính là văn hoá [1, tr.13]. Tư tưởng của người Việt Nam có thể tạm phân chia thành hai loại:
(i) tư tưởng b́nh dân, h́nh thành trong nếp nghĩ của nhân dân, được truyền lại cho hậu thế bằng đủ loại văn hoá dân gian, (ii) tư tưởng hàn lâm, bác học, được xây đắp nên bởi những người am hiểu chữ nghĩa. Những tư tưởng truyền thống đó phải được nghiên cứu và truyền lại cho con cháu, trước khi vay mượn học thuyết của dị chủng.

Nho giáo là một trong những nền tảng quan trọng h́nh thành nên tư tưởng của người Việt Nam. Có người xem Nho giáo như một thứ tôn giáo và cho rằng văn hoá nước ta chịu ảnh hưởng của tam giáo (Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo) [1, tr.202]. Thực ra, Nho giáo không phải là một thứ chủ nghĩa, một ư thức hệ, bởi Khổng Tử không phải là người phát kiến ra thứ tư duy đó. Nho giáo cũng không phải một thứ tôn giáo do Khổng Tử làm đạo trưởng, kiểu như Thiên chúa giáo của Chúa Giê-su. Nho giáo là một cách sống, một triết lư sống mà theo nó th́ con người cảm thấy thoải mái, thái b́nh: từ chuyện nhỏ trong gia đ́nh, trong ḍng họ, chuyện ngoài làng cho tới quốc gia đại sự. Thứ triết lư này đă là nền tảng cho xă hội Việt Nam từ hàng ngh́n năm nay; đă đi sâu vào tâm thức người dân, sâu thẳm và tự nhiên đến nỗi “không có dấu vết nào của văn hoá Việt Nam... mà không có tính chất Nho giáo” [11, tr. 209].

Trong quá tŕnh phát triển, mỗi thời đại có cách hiểu riêng về Nho giáo, có nhiều trường phái Nho giáo khác nhau, từ Nho giáo Nguyên thuỷ, Hán nho, Đường nho, Tống nho, Tân nho, Cựu nho, Hàn Nho (Nho giáo Hàn lâm) và Nho giáo dân gian... tuy nhiên trong cái vạn biến đó chắc phải có những cái gốc rễ bất biến [15, tr. 126]. Thêm nữa, với tính cách là một tư tưởng sống, Nho giáo, đặc biệt Tống Nho, đă thu nạp triết lư của Phật giáo, Lăo giáo và tín ngưỡng bản địa, tích tụ lâu ngày mà thành một đạo đức sống. Người Nhật, người Hàn, Hoa kiều, (và bây giờ là người Hoa trong đại lục) đă và đang làm giàu cho đất nước của họ, mà không muốn phá vỡ triết lư sống cổ truyền này. Khi đă trở thành tư tưởng, tâm thức một dân tộc, th́ dù có bị phủ nhận, Nho giáo vẫn sống dai dẳng trong cách suy nghĩ và ứng xử của người dân. Bởi vậy, học lại triết lư truyền thống để giải thích nhà nước và pháp luật chính là học cách suy nghĩ cổ truyền của ông cha để cắt nghĩa những hiện tượng thời nay. Đây chính là một điểm then chốt làm cho pháp luật trên giấy trở lại ngày càng gần hơn với những suy nghĩ và nguyện ước của người dân, chỉ có như vậy luật pháp mới sống lâu bền trong tâm thức nhân dân. Nếu không làm như vậy, mọi tư tưởng vay mượn từ bên ngoài rồi sẽ bị lăng quên như cơn mưa bụi trong lịch sử ngh́n năm văn hiến.

Sự hoang tàn vụn nát của Nho giáo trước đủ luồng triết lư Tây phương có nhiều nguyên nhân sâu xa; có thể bắt đầu bởi phong trào Tây học, lẫn lộn giữa văn minh và văn hoá trong khi Nho giáo “ngơ ngác không biết làm thế nào” để theo kịp văn minh phương Tây [14, tr.7], cũng có thể bắt đầu bằng phong trào dùng chữ Quốc ngữ của các nhà cách mạng, vô t́nh mà tạo ra cái hố sâu thẳm làm cho con cháu không c̣n đọc được gia phả của tổ tiên. Thêm nữa, tuy không rộ lên phong trào chống Nho giáo và bài bác Khổng Tử gay gắt như đă xảy ra ở Trung Quốc sau cách mạng Tân Hợi [16, tr.6-10], song trên thực tế Nho giáo đă mất đi vai tṛ của một chủ thuyết tư tưởng để tổ chức xă hội ở nước ta. Đôi khi người ta chỉ vay mượn cách nói cũ của Nho giáo để tuyên truyền tư tưởng chính trị mới vay mượn từ phương Tây. Chỉ mới gần đây, Nho giáo mới được nghiên cứu trở lại ở nước ta, hầu như là sự quay về nguồn gốc một cách tự phát theo bản năng [8]. Điều này thật đáng hổ thẹn, bởi thậm chí văn minh phương Tây ngày nay cũng tăng cường nghiên cứu văn hoá phương Đông; các cơ sở nghiên cứu Nho học nhan nhản từ Âu sang Mỹ báo hiệu một sức hấp dẫn ḱ lạ của triết lư sống phương Đông trong thời buổi hiện đại ngày nay.

II. Nội tỉnh và thuyết chính danh: Phương cách điều chỉnh hành vi của Nho giáo

Giống như mọi triết lư phương Đông khác, con đường nhận thức, khám phá và chinh phục các quy luật của thế giới bên ngoài bắt đầu bởi những bước đi hướng vào nội tâm để t́m lấy sự hài hoà giữa cá nhân và vũ trụ. Theo sách Trung Dung, “trời sinh ra người phú cho cái tính, mà thể theo cái tính ấy làm đường lối cư xử hàng ngày, gọi là đạo. Bởi khí chất bẩm sinh tính t́nh mỗi người một khác nhau, kẻ quá thái người bất cập, dạy tu sửa cho thích trung gọi là giáo. Nếu con người đă sửa được tính t́nh, th́ khi mừng, lúc giận, lúc yêu thương khi chưa phát thường giữ được trung b́nh, mà khi phát ra có tiết độ thường giữ được ôn hoà. Trung là tính không thiên lệch làm căn bản cho lẽ phải, hoà là không trái ngược làm đường lối thông cho cả thiên hạ, cho nên đạo Khổng là đạo trung dung” [2, tr.20].

Triết lư sống theo Nho giáo, về cơ bản dựa trên ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; mà căn bản là chữ nhân. Như hạt trong quả cây tàng trữ sinh lực, từ hạt mà mọc ra mầm ra cành ra lá, nhân tính quyết định diện mạo và hành vi con người. Sáng tạo ra chữ nhân, Nho giáo đă t́m ra một điểm tựa mà bẩy một phần lớn xă hội loài người theo xu hướng ổn định, hoà b́nh và hướng thiện. Chữ nhân hẹp mà rộng, thấp mà cao, vừa đủ với cho mọi hạng người; cả đời người theo Nho học có lẽ cũng chỉ truy t́m những giá trị của chữ nhân mà thôi.

Trước hết, chữ nhân có thể sơ hiểu là yêu người - một chữ hợp ư, gồm chữ nhân (người) và chữ nhị (hai) tạo thành; trong nhà yêu bố mẹ, anh em vợ chồng, ra ngoài yêu đồng bào, trong hành xử không nỡ hại ai. Điều ǵ không muốn ai làm cho ḿnh th́ không nên làm cho ai (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). V́ nhân là “yêu người, yêu vật, có ḷng bác ái, coi nhau như anh em, cả vũ trụ như nhất thể, ḷng yêu ḷng muốn đó rất tự nhiên không miễn cưỡng, cho nên người có nhân là có an, lúc nào cũng tự nhiên, ung dung, trúng đạo trong ḷng yên lặng hành xử ra ngoài th́ thiên lư chí công chí thiện” [14, tr.82-83]. Người không có nhân (bất nhân) th́ không an được.

Chữ nhân cũng có nghĩa là rộng lượng với mọi người, hiểu biết để có thái độ đúng trong mọi hoàn cảnh, dũng cảm để nhận trách nhiệm, giữ ḿnh đúng lễ [9, tr.20]. Nói cách khác, điều tiết ham muốn, giữ ḿnh theo lễ là gọi là nhân (khắc kỉ phục lễ vi nhân).

Người quân tử khi ăn, khi mặc, khi suy nghĩ, phát ngôn và hành xử không được trái nhân; vội vàng cũng phải theo nhân, hoạn nạn cũng phải theo nhân. V́ thường xuyên giữ ḿnh theo lễ trong mọi sinh hoạt hàng ngày như vậy, Nho giáo được thực hành chẳng khác ǵ một tôn giáo; đức tin và kỷ cương đó có lẽ đă góp phần h́nh thành diện mạo Nho sĩ thời xưa mà ông Nguyễn Khắc Viện cho là “vừa xa lạ, vừa kính trọng”: ung dung, khoan thai, nhàn nhă. Gốc của văn hoá pháp luật phương Tây là Thiên chúa giáo, th́ không thể chối bỏ cái gốc của văn hoá pháp luật phương Đông là Nho giáo.

Thời Xuân Thu, Khổng Tử thường chú trọng vào chữ nhân, cho đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đề cao chữ “nghĩa”. Theo ư đó, “nghĩa” là điều đáng làm giữa cá nhân và cộng đồng, là biết sống thành tâm, biết tiết độ dục vọng cá nhân mà giữ khuôn phép, biết xấu hổ, biết xám hối để ḱm chế thói xấu [6, tr.6]. Đạo làm người quư nhất là nhân với nghĩa, dẫu đến bậc vua có quyền thế mà không có nhân nghĩa cũng khinh, không thấy người sang giàu mà muốn, không thấy ḿnh nghèo hèn mà sợ [14, tr.241].

Nếu Mạnh Tử cho rằng những đức tính tốt vốn có sẵn trong con người ta, chỉ cần khơi dậy và vun đắp, th́ Tuân Tử lại cho rằng “nhân chi tính ác“, [14, tr.298]. Bởi vậy ông này chú trọng vào lễ; phép tu thân theo Tuân Tử chủ yếu là “khắc kỉ phục lễ”: khắc chế dục vọng của bản thân để nhất thiết mọi suy nghĩ, nói năng, hành vi đều hợp với lễ. Lễ là đối với kẻ quư th́ kính, đối với kẻ già th́ hiếu thảo, đối với kẻ lớn th́ thuận, đối với người trẻ th́ từ, đối với kẻ hèn th́ có ân huệ [Tuân Tử, Đại Lược]. Lễ là cẩn thận trong mọi hành vi, từ ăn mặc đến lời nói. Theo Tuân Tử, trọng lễ quư nghĩa th́ nước trị, giản lễ rẻ nghĩa th́ nước loạn. Các nhà trường thời nay vẫn núp dưới khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”, học lễ nghĩa là học đạo đức, học làm người theo quan điểm trọng lễ bắt đầu từ Tuân Tử.

Lư thuyết của Tuân Tử về chính trị tuy không trọng h́nh pháp, song v́ đă theo cái thuyết tính ác th́ cái kết quả tự nhiên tất phải trọng h́nh pháp. Theo Tuân Tử, ai cũng quư nghĩa và lợi, nhưng phải có trí để suy sét. Hàn Phi và Lư Tư đều theo học Tuân Tử, Hàn Phi v́ có trí tuệ phi thường, lại chịu ảnh hưởng tư tưởng trọng lễ của Tuân Tử, từ lễ đó mà cực đoan hoá thành công thức pháp luật và lấy “h́nh danh” làm thước đo trị nước.

Tóm lại, Nho giáo là một nền tảng cho sự tự tu tỉnh, tự tiết độ và giữ ǵn liêm sỉ. tư duy trị nước truyền thống. Nho giáo xem đạo đức là nền tảng cho chính trị
[7, tr.53]. Không phủ nhận vai tṛ của pháp luật trong giữ ǵn trật tự xă hội, song Nho giáo hướng tới nguồn gốc của sự b́nh an hơn là dùng h́nh luật để đe doạ hoặc trừng phạt điều ác khi nó xảy ra. “Lễ quư ở chỗ dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm.. để cho dân ngày ngày gần điều thiện, xa tội lỗi, mà tự ḿnh không biết” [Đại đái Lễ kư]. Bởi vậy, lễ có ư nghĩa giáo hoá, ngăn ngừa mầm mống bất an, c̣n pháp luật có ư nghĩa thống trị, áp đặt của người cầm quyền, mang tính cấm đoán. Khổng tử nói: “Lấy chính sự để dẫn dắt dân, dùng h́nh phạt để thực hiện sự b́nh đẳng th́ dân sẽ tránh h́nh phạt nhưng không cảm thấy xấu hổ. Lấy đức để dẫn dắt dân, lấy lễ để thực hiện sự b́nh đẳng th́ dân biết xấu hổ và sẽ tốt” [Luận Ngữ, Chương II, Vi chính].

Ngoài nội tỉnh, thuyết chính sách cũng là một phương cách giáo dục căn bản của Nho giáo. Thuyết này được Khổng Tử kín đáo bày tỏ trong kinh Xuân Thu và qua những ghi chép trong Luận Ngữ: “Danh không chính th́ ngôn không thuận, ngôn không thuận th́ việc không thành, việc không thành th́ lễ nhạc không hưng, lễ nhạc không hưng th́ h́nh phạt không đúng, h́nh phạt không đúng th́ dân không biết xử trí ra sao cho khỏi h́nh phạt. Cho nên người quân tử chính danh th́ tất nói được, nói được tất làm được” [Luận Ngữ, Chương Tử Lộ].

Đằng sau ít chữ “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử) là tư tưởng duy tŕ một tôn ti trật tự, một xă hội có đẳng cấp và phân chia ngôi thứ chặt chẽ. Từ gia đ́nh mà tưởng tưởng ra xă hội, người quân tử, theo nghĩa đen là người cầm quyền, phải được giáo dục cực kỳ cẩn thận, lấy lễ và văn làm nội dung chính, lễ là đạo đức, văn là học vấn [12, tr.223]. “Tề gia” có nghĩa là “gia đ́nh hoà mục, cha con, anh em, vợ chồng sống t́nh nghĩa thuỷ chung, người dưới phục tùng người trên, người trên thương yêu chăm lo cho kẻ dưới” [13, tr. 81]. Muốn vậy “cha ra cha”, có nghĩa rằng làm cha mẹ “lúc sống có chí hướng đúng cho con cháu trông vào, lúc chết để lại hành vi tốt cho con cháu bắt chước“ [Luận ngữ, Học Nhi]. Nghĩa của cha là từ, th́ nghĩa của con là hiếu. Cứ như thế, hành vi của con người được giới hạn bởi những thước đo mà người ta cho là chính danh.

Tiếc rằng, khi trở thành học thuyết của người cầm quyền từ đời Hán, Nho giáo liên tục bị xuyên tạc để củng cố quyền lực của người giữ quyền cai trị. Hán Nho dường như gạt bỏ mối qua lại giữa người trên và người dưới, chỉ nhấn mạnh thái độ tuân thủ, phục tùng của người dưới đối với người trên. Tam cương có lẽ do Đổng Trọng Thư sáng tạo ra từ thời đó [11, tr.185]. Chữ trung, hiếu, tam ṭng, tứ đức được b́nh luận đôi khi đến mức quái gở (ví dụ về địa vị của người phụ nữ: ở nhà th́ vâng lời cha mẹ, cha mẹ đặt đâu th́ ngồi đó, không được tự nguyện yêu đương và hôn nhân, lấy chồng th́ vâng lời chồng, chồng chết th́ theo con). Từ năm 140 tr. CN nhà Hán mở khoa thi, từ đó việc học chỉ chú trọng vào mục đích thi cử, chú trọng khảo cứu câu chữ, tầm chương trích cú mà mất đi tính sáng tạo; Nho giáo v́ thế mà dần trở thành bảo thủ, tự măn, chống lại đổi mới về kinh tế và chính trị. Bên cạnh những “khuôn vàng, thước ngọc” giữ cho xă hội b́nh yên, Nho giáo cũng tạo ra gông cùm và xiềng xích làm cho xă hội Việt Nam trở nên lạc hậu so với thế giới bên ngoài. Điều trọng yếu là cần nhận diện rơ những phản động lực đó và hạn chế tác hại của chúng, chỉ có như vậy Nho giáo mới có ích cho đời sống ngày nay.

III. Nội Nho, ngoại Pháp: Một bản sắc văn hóa pháp lư phương Đông

Theo quốc sử Trung Hoa, (năm 536
tr. CN) Tử Sản vua nước Trịnh ban hành H́nh thư (sách ghi pháp luật), sau đó Phạm Tuyên Tử (năm 513 tr.CN) vua nước Tấn sai khắc pháp luật vào cái vạc là vật để nấu người có tội. Từ Quản Trọng, cho đến Hàn Phi và Lư Tư, một tư tưởng trị nước bằng pháp luật đă h́nh thành từ thời cổ đại, mà người ta quen gọi là trường phái pháp trị. Nhân trị và pháp trị là hai trong vô số các luồng tư tưởng thời Xuân Thu- Chiến Quốc, cuộc tranh luận của hai học phái tiêu biểu này đă góp phần h́nh thành diện mạo của pháp luật các nước phương Đông chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Nước Tần theo tư tưởng pháp trị của Thương Ưởng; từ những năm 350 tr.CN tiến hành tư hữu hoá ruộng đất, xoá bỏ độc quyền của giới quư tộc; toàn dân làm hai việc sản xuất và chiến đấu, có lẽ bởi vậy một trăm hai mươi năm sau (năm 227 tr. CN) nước Tần trở nên hùng mạnh, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất được thiên hạ.

Đọc những áng văn mà Hàn Phi (280 - 233 tr. CN), đại diện tiêu biểu nhất cho học phái Pháp trị viết trong ngục tù và “sự đau khổ trí tuệ”, hơn hai ngh́n năm sau, người ta không thể không kinh ngạc về tư duy sắc sảo và những nhận xét c̣n nguyên giá trị cho thời nay của con người uyên bác này. Theo Hàn Phi:

(i) pháp luật trước hết phải minh bạch, “chỉ riêng có pháp luật minh bạch mới giúp ích cho sự thực hiện một nền thịnh trị”
[4, tr.73];

(ii) pháp luật phải được áp dụng nghiêm minh, “pháp là phép tắc hiệu lệnh rơ ra ở chỗ công, h́nh phạt là để ḷng dân quyết chắc mà theo. Ai giữ phép cẩn thận th́ thưởng, trái lệnh th́ phạt” [3, tr.40].

(iii) pháp luật phải được áp dụng công bằng từ người có quan tước đến thường dân, “pháp luật không hùa theo người sang.. khi đă thi hành pháp luật th́ kẻ không cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” [3, tr.43],

(iv) nếu như thuyết “chính danh” của Nho giáo nhằm củng cố giai cấp; th́ thuyết “h́nh danh” của Hàn Phi vô t́nh hay hữu ư nhằm xoá bỏ đẳng cấp, mọi người ngang quyền trước pháp luật, “Căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói th́ thưởng. Nếu kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói th́ phạt” [3, tr.50].

Dù Tần Thuỷ Hoàng có cảm kích khi đọc sách của Hàn Phi bao nhiêu, sau khi nhà Tần sụp đổ, học thuyết h́nh danh của Pháp gia đă không thắng nổi thuyết nhân trị của Nho giáo. Lưu Bang (Hán Cao Tổ) ngồi trên yên ngựa mà lấy được thiên hạ, song phải dùng thuyết “ngoại Nho nội Pháp”- (bề ngoài dùng sự khôn khéo của Nho, bên trong dùng h́nh pháp) của Lữ Gia để giữ yên thiên hạ. Bắt đầu từ đây, một chủ trương lựa chọn, phối hợp những tư tưởng của Nho giáo và Pháp giáo để trị nước đă xuất hiện. Cũng từ đó, tinh thần Nho giáo thấm đượm trong pháp luật phương Đông. Nho giáo không phủ nhận, không bài bác, song xem nhẹ việc dùng h́nh phạt nặng nề, xem nhẹ pháp luật; xă hội được tổ chức theo triết lư nhân trị: lấy sự tự giáo dục theo “nhân, nghĩa, lễ trí, tín” để làm nguyên tắc “tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”. Các nguyên tắc đạo đức của Nho giáo được xây dựng và bồi bổ qua nhiều đời, đă thay thế một phần đáng kể chức năng của pháp luật.

IV. Sáu lời bàn góp phần làm cho pháp luật gần với ḷng dân

V́ “dân vi quư, xă tắc thứ chi”, luật pháp sinh ra không phải để phục vụ nền quan chế, mà trước hết để phục vụ lợi ích nhân dân. Muốn vậy, theo thiển ư của tôi, có thể xem xét sáu điểm dưới đây:

Thứ nhất, nếu pháp luật gần với nhu cầu, mong ước và tiếng nói của người dân, người dân sẽ vui vẻ tự nguyện tuân theo luật đó; khi ấy pháp luật gần với cuộc sống và có hiệu lực cao. Ngược lại, nếu pháp luật trái với lẽ tự nhiên, trái với dân nguyện, th́ dù có dùng h́nh phạt nặng nề mà răn đe và cưỡng bức, thứ luật đó tất sẽ bị số đông dân chúng đào thải. Khi đó, cái gọi là hợp pháp th́ trở thành ngoại lệ, cái bất hợp pháp trở thành phổ biến. Như vậy làm cho pháp luật trở nên nghiêm minh chính là làm cho pháp luật đại diện tiếng nói và lợi ích của nhân dân ngày một tốt hơn. Sự thiếu luật, chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản luật hoặc thiếu nhân viên công lực thi hành luật.. chỉ là những lư do mang tính h́nh thức, tức thời. Điều quan trọng là phải làm cho tinh thần pháp luật gần với tâm thức và nguyện ước của nhân dân. Nhân dân Việt Nam là 80 triệu người, cần thiết phải có những thiết chế tập hợp và đại diện quyền lợi đa dạng của họ. Từ đó sinh ra đoàn thể, hội hiệp, tôn giáo, đảng phái... hàng vạn ngọn đuốc đó khơi sáng lên cái gọi là ư chí nhân dân- một ư chí tối thượng buộc mọi quyền lực nhà nước phải cúi xuống tuân thủ.

Thứ hai, nếu xem xét từ chủ quyền nhân dân, dân là gốc c̣n nhà nước chỉ là công cụ (dân vi quư, quân vi khinh, xă tắc thứ chi) - chứ nhân dân không phải là công cụ của nhà nước, th́ cần phải định nghĩa lại pháp luật và phương cách thi hành luật. Không chỉ là những quy tắc ứng xử của con người được nhà nước ban hành, pháp luật phải là ư nguyện của nhân dân được nói lên thành luật. Người nói lên cái ư chí nhân dân đó không chỉ là cơ quan lập pháp dân cử, mà c̣n là cơ quan tư pháp, đại diện cho nhân dân để phát ngôn ra công lư và muôn vàn hội hiệp của nhân dân. Trong thời hiện đại, luật cứng nhắc (văn bản do nhà nước ban hành) đang được thay thế bởi luật mềm (vay chữ soft-law của phương Tây), do muôn vạn thiết chế xây dựng nên; khi được công quyền thừa nhận, những quy tắc ứng xử này trở thành luật. Bởi vậy, xây dựng và thực hiện pháp luật ngày nay không c̣n là độc quyền nhà nước; lập quy và thực hiện quy ước phải là công việc của toàn thể nhân dân. Chức năng của nhà nước là đảm bảo cho quy tŕnh lập và thực hiện quy ước đó diễn ra một cách tự do và b́nh đẳng.

Thứ ba, từ quy tắc sống của cộng đồng dân cư, tục lệ sinh hoạt theo họ hàng, hương ước của làng xóm, cho tới văn bản lập quy của chính quyền địa phương các cấp, lợi ích đa dạng của nhân dân cần được đại diện qua vô vàn các thiết chế và tổ chức xă hội. Nghiệp đoàn và đảng phái là những tổ chức đại diện như vậy. Đảng Cộng Sản Việt Nam là một tổ chức chính trị cầm quyền, tất nhiên có một vị trí rất trọng yếu trong quy tŕnh lập quy và thực thi pháp luật hiện nay; dân giàu hay nghèo, nước mạnh hay suy một phần cơ bản đều do đường lối của Đảng Cộng Sản. Các văn kiện chính trị của Đảng là cơ sở h́nh thành nên luật pháp, các chính sách kinh tế - xă hội đều được tiến hành trước hết dựa trên cơ sở các nghị quyết của Đảng; cùng với thời gian chính phủ và các cơ quan nhà nước khác mới lần lượt ban hành văn bản pháp quy để hướng dẫn thi hành đường lối đó. Nói cách khác, ư chí chính trị của Đảng Cộng Sản hiện nay là tinh thần chủ yếu cho pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, do kỹ thuật lập pháp c̣n chưa đạt nên đôi khi việc chuyển hoá chúng thành văn bản pháp luật đôi khi c̣n vụng về đến nỗi người ta vẫn nhận thấy sự nhầm lẫn và hoà đồng giữa định hướng chính trị và quy phạm pháp luật.

Thứ tư, khi nhà nước nhường dần chức năng kinh doanh cho dân doanh, giới doanh nhân dần sẽ trở thành một lực lượng có sức mạnh t́m cách thao túng đời sống kinh tế, văn hoá, xă hội, và đương nhiên họ t́m cách thao túng cả chính trị và pháp luật. Điều đó là tất yếu, bởi doanh nhân cũng là nhân dân, thậm chí là một bộ phận lănh đạo, dẫn đầu xă hội trong việc tạo của cải và thịnh vượng cho dân tộc. Thông qua nghiệp đoàn và các nhóm lợi ích, khi công khai, khi ngấm ngầm, doanh nhân một mặt gây sức ép với chính phủ và các cơ quan lập pháp, mặt khác có thể t́m cách thao túng cả tư pháp. Hiện tượng các toà án địa phương ở Trung Quốc chịu sức ép của chủ nghĩa cát cứ địa phương là một ví dụ cho xu hướng này. Bên cạnh đó, doanh nhân ngày càng nhận thức được quyền tự lập quy và sử dụng công cụ này để phản ứng nhanh chóng với thị trường và thay đổi của pháp luật. Đây là một hiện tượng c̣n ít được đề cập trong luật học Việt Nam.

Bên cạnh pháp luật, các giao dịch kinh tế trên thị trường bị chi phối một cách đáng kể bởi quyền tự lập quy của doanh nhân. Nhà nước, từ vị trí chỉ huy, không hiếm khi đă trở thành một đối tác trong quan hệ với doanh nhân. Giữa quy phạm pháp luật và quy phạm tự lập của doanh nhân không chỉ là c̣n sự phục tùng, mà tất yếu có sự cạnh tranh, chèn lấn và triệt tiêu lẫn nhau. Cải cách pháp luật ở nước ta không thể không tính tới yếu tố này: Nhà nước không thể làm thay doanh nhân việc nhận diện, đánh giá và phân bổ rủi ro kinh doanh, song cần can thiệp một cách có hiệu quả để bảo vệ lợi ích công trước sự lạm dụng thông tin bất cân xứng và lợi thế cạnh tranh.

Thứ năm, không chỉ có các cơ quan dân cử mới có quyền sáng tạo ra pháp luật, các cơ quan hành pháp từ chính phủ, các bộ cho tới chính quyền địa phương các cấp đều có thẩm quyền lập quy rất lớn. Đối với từng người dân, các quyết định của Uỷ ban nhân dân các cấp, công văn, thông tư, chỉ thị của các bộ và nghị định của chính phủ đôi khi có giá trị áp dụng thực tiễn sát thực nhiều lần hơn là các đạo luật, vốn chỉ hàm chứa những quy tắc cách chung chung. Đây là một thực tế tất yếu, không thể thay đổi được. Điều đáng quan tâm là phải giám sát quyền lập quy đó để ngăn chặn lạm quyền. Từ đây phát sinh ra nhu cầu h́nh thành cơ quan bảo hiến để huỷ bỏ các văn bản pháp quy vi phạm hiến pháp (vi hiến), cũng từ đây phát sinh ra toà hành chính để huỷ bỏ các hành vi vi pháp của cơ quan công lực. Điều này không có ǵ mới, bởi cách đây hơn hai thế kỷ, người phương Tây đă hiểu “chính quyền không phải là thánh thần”, họ đă biết cách đi trước phương Đông trong việc phát minh ra các thiết chế ḱm chế và đối trọng công lực. Đáng tiếc thay, hai trăm năm sau, người Việt Nam vẫn loay hoay chưa biết cách xây dựng và sử dụng hữu hiệu các thiết chế này có lợi cho dân tộc ḿnh.

Thứ sáu, đă khá muộn để bàn tới quyền sáng tạo pháp luật của thẩm phán. Du nhập học thuyết pháp lư Xô viết, cho đến ngày nay, thẩm quyền lập hiến, lập pháp thuộc về Quốc hội, thẩm quyền giải thích pháp luật, về lư thuyết thuộc về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, về thực tế thuộc về Chính phủ và các cơ quan hành chính; các toà án Việt Nam chỉ có thẩm quyền áp dụng pháp luật, mà không có quyền sáng tạo pháp luật, không có quyền giải thích luật. Thói quen xem xét án lệ được du nhập từ thời thuộc Pháp, theo đó toà cấp dưới buộc phải xem xét phán quyết của toà cấp trên như là luật khi xét xử, giới học thuật cũng dựa vào án lệ mà xây dựng học lư, đă bị xoá bỏ ở Việt Nam từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX. Toà án Việt Nam hiện nay chỉ căn cứ vào văn bản pháp luật, chứ chưa tham chiếu bản án của các toà án khác như án lệ. Tuy nhiên, hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cáo được đúc kết từ kinh nghiệm xét xử, phần nào cũng có giá trị tham khảo đối với các toà án trong quá tŕnh xét xử và theo một nghĩa như vậy cũng có "hiệu lực" trong một phạm vi nhất định.

Nếu công nhận toà án độc lập phán xử, cần xem xét khả năng cho phép các thẩm phán quyền năng sáng tạo, vận dụng, b́nh luận và giải thích pháp luật thích ứng với các t́nh huống cụ thể. Chức năng giải thích pháp luật nếu được trao lại cho toà án th́ cũng không có ǵ là sai, bởi lẽ chỉ có cơ quan tư pháp mới có quyền phán xử một hành vi là hợp pháp hay vi phạm pháp luật. Ngoài ra, khi không có luật, thẩm phán cũng nên xem học lư và lẽ công bằng như những loại nguồn phụ trợ của pháp luật. Khi không có luật, lệ th́ thẩm phán phải lấy lẽ phải và lẽ công bằng mà phán xử, chứ không “kính chuyển” hồ sơ lên toà cấp trên và chờ đường lối xét xử được phán từ trên xuống. Triết lư này xuất pháp từ quan niệm pháp luật không chỉ bao gồm văn bản trên giấy, ngoài luật thành văn c̣n có luật của cuộc đời, luật của lương tâm. Người thẩm phán tuyên án không giống như một công chức ban hành một quyết định hành chính, mà góp phần làm cho luật của lương tâm, lẽ phải trở thành luật của cuộc đời-thẩm phán đă góp phần sáng tạo ra luật [nguyên chữ Latinh juris (luật), dicta (nói, tuyên), hai chữ đó hợp thành jurisdiction mà ngày nay ta dịch là tư pháp].

V. Kết luận

Nhận thức về dân quyền đang dẫn tới những cuộc cải cách tư pháp có thể làm thay đổi nền học lư cũ về nhà nước và pháp quyền. Nhà nước của dân, do dân và v́ dân đă và đang thay thế cho nền chuyên chính vô sản, thủ tục tranh tụng b́nh đẳng giữa công tố và luật sư dần thay thế cho đường lối xét xử v́ “sự thực khách quan”. Trong ngổn ngang các tư duy cải cách đang bị cuốn trôi ngày càng nhanh giữa cơn lốc toàn cầu hoá, sừng sững hiện lên một bến bờ thân thuộc: Nho giáo đă sống lâu đời trong tâm thức dân tộc chắc chắn sẽ dẫn lối cho người Việt Nam t́m được sự ung dung, thanh thản để tổ chức nền quan chế và pháp luật ngày càng phụng sự tốt hơn cho lợi ích nhân dân. Người phương Tây đă sáng tạo ra ngàn vạn sợi dây buộc công lực phải khuất phục ư chí nhân dân, những công cụ đó cần được mau chóng du nhập, cũng như người dân nước ta cần mau chóng học cách làm chủ mọi công cụ của thời đại không gian điện tử. Song công cụ, dù tối tân tới đâu, cũng không thay thế được tư duy và tư tưởng sống của dân tộc, không thể đem cái mà người phương Tây tôn kính, căm ghét hay sợ hăi thay thế cho tâm thức dân tộc. Học lấy ngọn mà bỏ gốc sẽ làm cho tâm lư sùng kính ngoại bang gia tăng, rạn nứt giữa các thế hệ ngày càng lớn mà tinh thần dân tộc th́ suy vong, một dân tộc như vậy không thể mạnh. Nhà nước và pháp quyền của người Việt Nam phải được giải thích và xây đắp bởi tư tưởng của người Việt Nam, việc vay mượn văn minh phương Tây chỉ để bổ khuyết cho những điểm khiếm khuyết, giúp người Việt Nam khuếch trương tinh hoa có sẵn trong tư tưởng dân tộc ḿnh. Nền quan chế và pháp luật Việt Nam phải là sự kết nối của hàng ngàn năm văn hiến, chứ không thể bắt đầu bằng một học lư vay mượn từ phương Tây./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử Cương, NXB Quan Hải Tùng Thư, Huế, 1938.
Hà Ngọc Xuyến, Khổng đạo tinh hoa toát yếu, Nhà văn hoá, Phủ quốc khanh đặc trách văn hoá xuất bản, Sài G̣n, 1969.
Hàn Phi, Hàn Phi Tử, Bản dịch của Phan Ngọc, NXB Văn học, Hà Nội, 1992. Định Pháp XLIII, bản dịch của Phan Ngọc, 1992.
Hàn Phi, Thiên Ngũ Đố, Bản dịch trong tài liệu của Vũ Văn Mẫu, Pháp luật diễn giảng, Luật khoa Đại học, Sài g̣n, 1975.
Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề về hiến pháp và bộ máy nhà nước, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2001.
Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập I, Tập II, Bộ Văn hoá, Sài G̣n, 1967.
Nguyễn Hiến Lê, Nho giáo: Một triết lư chính trị, tác giả tự xuất bản, Sài G̣n, 1958.
Nguyễn Kim Sơn, Nho giáo trong tương lai văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2/2003.
Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho, NXB Trẻ, TP HCM 1998, nguyên tác: “Confucianisme et Marxisme au Vietnam” LA Pensee (1962) No 10, bản dịch Việt ngữ của Đào Hùng và Trần Văn Quư, 1962.
Phan Đại Doăn, Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá Thông Tin, Hà Nội, 1998.
Phan Ngọc, Một cách tiếp cận văn hoá, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000.
Trần Đ́nh Hượu, Đến hiện đại từ truyền thống, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1995.
Trần Trọng Kim, Nho Giáo: Đại cương triết học Trung Hoa, NXB Tân Việt, Sài G̣n, 1971, NXB TP Hồ Chí Minh, TP. HCM, tái bản, 1992, NXB Văn hoá Thông tin tái bản, 2001.
Trần Văn Giàu, Triết học và tư tưởng, NXB TP Hồ Chí Minh, 1988, tr.126.
Vũ Khiêu, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, NXB Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1997.
CONFUCIANISM AND THE FUTURE OF THE LAW IN VIETNAM

Dr. Pham Duy Nghia





--------------------
Phong lưu phiêu bạt đất trời
Đêm về hiu quạnh tay quàng hư không
Chờ mong măi một bóng hồng
Ràng xa vời vợi ḷng càng thêm đau
Gác tay nâng chén rươu sầu
Rượu sầu đă cạn ưu sầu chưa tan
Top
0 User(s) are reading this topic (0 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:
« Next Oldest | .::Học hành::. | Next Newest »
DealsFor.me - The best sales, coupons, and discounts for you

Topic Options



Hosted for free by InvisionFree* (Terms of Use: Updated 2/10/2010) | Powered by Invision Power Board v1.3 Final © 2003 IPS, Inc.
Page creation time: 0.1827 seconds | Archive