]
NEWS
HOME
ĐĂNG KÍ
ĐĂNG NHẬP
GIÚP ĐỠ
THÀNH VIÊN
LỊCH
CHỨC NĂNG
THOÁT
·
Portal
Help
Search
Members
Calendar
Welcome Guest (
Log In
|
Register
)
Resend Validation Email
WEB ĐĂ CHUYỂN SANG http://lsvaqs.plus.vn XIN CẢM ƠN!
Lsvnonline
THƯ VIỆN DIỄN ĐÀN
Nhân Vật Lịch Sử.
Tài Khoản:
Mật Mă:
Nhớ mật khẩu?
T̀NH H̀NH CỦA DIỄN ĐÀN TA RA SAO
Cá Nhân
Các Pác Spam Nhiều Nhất
Bài viết mới
Username:
Password:
Nhớ mật khẩu?
Xin chờ đợi...
Xin chờ đợi...
DANH NHÂN ĐẤT VIỆT.
Track this topic
|
Email this topic
|
Print this topic
napal00
Posted:
Aug 8 2008, 05:12 PM
BINH NHẤT
Group: Admin
Posts: 32
Member No.: 1
Joined: 30-July 08
Lê Văn Hưu
L ê Văn Hưu người làng Phủ Lư, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xă Triệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Theo lời các cố lăo địa phương th́ đất Triệu Trung vốn là trang trại của vị tổ khai sáng ḍng họ Lê - quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên Hoàng, đến nay đă được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu là ông tổ thứ bảy của ḍng họ này. Cuốn Lê thị gia phả hiện c̣n được bảo tồn, ghi ông sinh năm Canh Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh.
Một hôm đi ngang qua ḷ rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đă chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:
Than trong ḷ, sắt trong ḷ, lửa trong ḷ, thổi ph́ pḥ đúc nên dùi vở.
Lê Văn Hưu liền đối:
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi măi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.
Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhăn. Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên, Bảng Nhăn, Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tṛn 18 tuổi.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (chức quan trông coi việc h́nh luật), rồi Binh bộ Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, ông đă hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử kư - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) (*) cho tới Lư Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.
Đại Việt sử kư nay không c̣n, nhưng vẫn có thể thấy được thấp thoáng bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên này trong Đại Việt sử kư toàn thư. Ngô Sĩ Liên, sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại Việt sử kư toàn thư, đă căn cứ vào Đại Việt sử kư của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử kư tục biên của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan. Trong bài tựa Đại Việt sử kư ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lăo của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, t́m khắp các tài liệu c̣n sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có ǵ phải tiếc nữa, thế là được rồi". Tiếp đó, Ngô Sĩ Liên nói rơ, ông đă đem "hai bộ sách của tiên hiền" (tức là Đại Việt sử kư tục biên của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh, biên soạn lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, thành một số quyển, gọi là Đại Việt sử kư toàn thư". Như vậy, khó có thể phân định được đích xác đâu là nguyên văn Đại Việt sử kư trong bộ quốc sử lớn đời Lê này. Tuy vậy, rất may là trong Đại Việt sử kư toàn thư hiện đang lưu hành vẫn c̣n có 29 đoạn ghi rơ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ " Lê Văn Hưu viết ". Qua nhưng trích đoạn đó, có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng như sắc thái ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao đánh giặc giữ nước của Tổ tiên, ông đă nhận định về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng với những lời lẽ rất mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô một tiếng mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi nhăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay...". Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm ḷng tự hào sâu sắc trước thắng lợi huy hoàng của dân tộc: " Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân, ông cũng đă nghiêm khắc phê phán những hành vi bạo ngược, trái đạo lư của vua chúa, như đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái nhà quan lấy chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung" của Lư Thần Tông (1128 - 1137), chẳng hạn: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung phụng riêng cho vua. Ḷng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất; thánh nhân thể ḷng ấy c̣n sợ kẻ sát phu sát phụ không được có nơi có chốn... Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho ḿnh, đâu phải là tấm ḷng của người làm cha mẹ dân!".
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh đồng xứ Mả Gịm (thuộc địa phận xă Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện nay ở đó vẫn c̣n phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
------------------------------------
* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc của dân tộc Việt rồi sáp nhập vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó là các nhà sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà là vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu" như một triều đại chính thống trong lịch sử Đại Việt. Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô Th́ Sỹ (1726-1780) trong cuốn "Việt sử tiêu án" mới bác bỏ sai lầm này, khẳng định Triệu Đà "thực chưa từng làm vua nước ta" v́ "nước Việt ở miền Nam Hải, Quế Lâm" không ở vị trí nước Việt Nam ngày nay.
Vua Trần Nhân Tông
T rần Nhân Tông tên làm Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đă trở thành ngọn cờ "kết chặt ḷng dân", lănh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đă tỏ rơ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang c̣n ở thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đă viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu kư,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang c̣n chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông tại Long Hưng (Thái B́nh) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần thứ ba:
Xă tắc lưỡng hồi lao thạch mă,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xă tắc hai lần lao ngựa đá,
Non sông ngh́n thuở vững âu vàng.)
đă đi vào lịch sử như một kư ức bất diệt về chiến công b́nh Nguyên năm 1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nh́n nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đă giành được trong sự nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đă đánh giá cao vai tṛ của nhân dân lao động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử kư toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu tất gọi rơ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn ḍ các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn th́ chỉ có bọn ấy đi theo thôi".
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên b́nh diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đă phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học tṛ hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học tṛ hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người không để mắt th́ như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài ḥa với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nh́n tinh tế, tao nhă, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch đương biên,
Mục đồng địch lư ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền man mác có dường không,
Theo lời kèn mục trâu về hết,
C̣ trắng từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường văn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, c̣n bao hàm một ư vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
--------------------
lor]
napal00
Posted:
Aug 8 2008, 05:13 PM
BINH NHẤT
Group: Admin
Posts: 32
Member No.: 1
Joined: 30-July 08
Hưng Đạo vương
S inh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lư làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất tài giỏi đă xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững. Bấy giờ Trần Cảnh c̣n nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lư Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của ḍng họ Lư. V́ nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất nhà Lư dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi ḷng thù hận của Liễu. V́ thế Liễu kén thầy giỏi dạy cho con trai ḿnh thành bậc văn vơ toàn tài, kư thác vào con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
Thuở nhỏ, có người đă phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn vơ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc Tuấn có thể rửa nhục cho ḿnh. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đă tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xă tắc. Ông đă biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đă giao hảo ḥa hiếu với Trần Quang Khải. Hai người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ trước. Sự ḥa hợp của hai người chính là sự thống nhất ư chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hăn.
Chuyện kể rằng: thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền ḿnh tṛ chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự ḿnh tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích trong ḍng họ ḍ ư các con, Trần Quốc Tảng có ư khích ông cướp ngôi vua của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nh́n mặt thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua. Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lư, chú ư từng việc nhỏ để tránh hiềm nghi, yên ḷng quan để yên ḷng dân, đoàn kết mọi người v́ nghĩa lớn dân tộc. Một tấm ḷng trung trinh son sắt v́ vua, v́ nước.
Vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lăo, Yết Kiêu, Dă Tượng... đều từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng cột đá chống trời. Ông đă soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược, và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời đă hết lời ca ngợi ông :... "Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rơ ư định gây hấn, Trần Quốc Tuấn truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của một bậc "đại bút".
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt ngh́n đời là đại công của ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông th́ sẽ được ǵ, trái lời ông th́ sẽ bị ǵ. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công lớn.
Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏi:
- Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn th́ kế sách làm sao?
Ông đă trăng trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi thời đại dựng nước và giữ nước:
- Thời b́nh phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tư, Hưng Long thứ 8 (1300) "B́nh Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hỏa táng thu vào b́nh đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ...
Khi ông mất (1300), vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đ́nh lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời. Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại vương.
Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
Thái sư Trần Quang Khải
T rần Quang Khải sinh năm 1240, mất năm 1294, là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông.
Dưới triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278). Trần Quang Khải được phong tước Chiêu minh đại vương. Năm 1274, ông được giao giữ chức Tướng quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm giữ quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều công lao lớn trên chiến trường.
Trong sự nghiệp quân sự của Thượng tướng Trần Quang Khải, th́ trận ông chỉ huy đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5-1285 "là chiến công to nhất lúc bấy giờ", như sử sách từng ca ngợi.
Trần Quang Khải c̣n là một nhà ngoại giao giỏi. Năm 1281, khi nhà Nguyên chuẩn bị xâm lược Việt Nam lần thứ hai, chúng cho Sài Thung đem 1.000 quân đưa bọn Trần Dĩ ái về nước. Khi tới biên giới, quân Nguyên bị nhà Trần phục đánh. Trần Dĩ ái bỏ chạy. Sài Thung được "rước" về Thăng Long để dùng vào kế hoăn binh để có thêm thời gian chuẩn bị đối phó với giặc. Lúc Sài Thung về Trung Quốc, Trần Quang Khải làm bài thơ tiễn tặng rất thân, nhă, đoạn kết có câu viết:
Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Chưa biết ngày nào lại cùng gặp mặt,
Để ân cần nắm tay nhau hàn huyên).
Đối với viên sứ giả hống hách của một nước sắp tràn quân sang xâm lược, thái độ Trần Quang Khải vẫn ung dung, niềm nở như vậy, đó cũng thể hiện một nghệ thuật ngoại giao khôn khéo của ông và con người Việt Nam thời ấy.
Trong văn học sử Việt Nam, Trần Quang Khải là một nhà thơ có vị trí không nhỏ. Thơ ông sáng tác có tập Lạc đạo, nay đă thất truyền, chỉ c̣n lưu được một số bài. Là một vị tướng cầm quân xông pha khắp trận mạc đánh giặc, song thơ ông lại "thanh thoát, nhàn nhă", "sâu xa, lư thú" (Phan Huy Chú). ấy cũng là cốt cách phong thái của các vua Trần, của người Việt Nam ngàn đời nay. Hăy đọc bản dịch bài thơ Vườn Phúc Hưng của Trần Quang Khải để thấy rơ hơn tâm hồn ông:
Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh,
Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh.
Hết tuyết cḥm mai hoa trắng xóa,
Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh.
Nắng lên mời khách pha trà nhấp,
Mưa lạnh sai đồng dỡ thuốc nhanh,
Báo giặc ải Nam không khói lửa,
Bên giường một giấc ngủ êm lành.
(Theo Hoàng Việt thi văn tuyển).
Tâm hồn Trần Quang Khải vừa thoáng đạt, vừa gần gũi, gắn bó với cuộc sống b́nh dị của đất nước và con người:
Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông soa bích lũng vân.
(Tiếng sáo mục đồng dưới ánh trăng bên lầu xanh, Mấy chiếc áo tơi dưới mây trên ruộng biếc)
(Chùa Dă Thự).
Cuộc đời Trần Quang Khải là một cuộc đời sung măn, khí phách dọc ngang. Vào tuổi 50, Trần Quang Khải vẫn c̣n viết những câu thơ đầy khát vọng anh hùng:
Linh b́nh đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng cảm lúc c̣n trẻ vẫn ngang tàng, hăng hái. Muốn quật ngă ngọn gió đông, ngâm vang một bài thơ).
Ngoài bài Tụng giá hoàn kinh sứ, Lưu Gia độ (Bến đ̣ Lưu Gia) cũng là một bài thơ nổi tiếng của Trần Quang Khải, có thể xếp vào trong số những bài thơ hay của thơ cổ Việt Nam.
Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đ́nh lưu thủy thượng,
Hoang tử cổ trùng thạch lân tiền.
Thái b́nh đồ chí kỷ thiên lư,
Lư đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu t́nh xuyên.
(Bến đ̣ Lưu Gia cây cao ngất trời,
Xưa pḥ giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ, đ́nh xưa dựng trên sông thu,
Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
Bản đồ thái b́nh ghi mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lư trải hai trăm năm.
Khách thơ nay trở lại đầu đă bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong).
Những vần thơ Trần Quang Khải để lại là những ánh hào quang, ghi dấu ấn của một sự nghiệp lớn trong cuộc đời vị Thượng tướng nhà Trần - vừa làm thơ, vừa đánh giặc.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
--------------------
lor]
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:
«
Next Oldest
|
Nhân Vật Lịch Sử.
|
Next Newest
»
Close Topic Options
Track this topic
Receive email notification when a reply has been made to this topic and you are not active on the board.
Subscribe to this forum
Receive email notification when a new topic is posted in this forum and you are not active on the board.
Download / Print this Topic
Download this topic in different formats or view a printer friendly version.
Forum Jump
------------
Văn Pḥng Diễn Đàn
- Thông Báo
- Nội Quy
- Bảng vàng - Sổ Đen
- Thắc mắc - Góp ư - Ư tưởng
- Thông Báo Khoá Nick - Xoá Bài Viết
VIỆN NGHIÊN CỨU
- Viện Nghiên Cứu Lịch Sử.
- Viện Nghiên Cứu Quân Sự.
- Viện Nghiên Cứu Văn Hóa
- Viện Nghiên Cứu Các Vấn Đề Chính Trị.
- Viện Nghiên Cứu Triết Học.
THƯ VIỆN DIỄN ĐÀN
- Thư viện Lịch Sử Việt Nam.
- Thư viện Lịch Sử Thế Giới.
- Nhân Vật Lịch Sử.
- Thư viện Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
- Thư viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam.
- Thư viện Khoa Học.
DIỄN ĐÀN QUÂN SỰ.
- Lịch Sử Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam.
- Lịch sử Quân sự Việt Nam
- Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
- Khoa Học Quân Sự.
GIẢI TRÍ SAU DIỄN ĐÀN.
- Kết Bạn - Tán Gẩu
- Truyện - Chuyện cười
- Game - Music
- Tâm Sự
- Thể Thao
<% STATISTICS %>
Hosted for free by
InvisionFree
(
Terms of Use: Updated 7/7/05
) | Powered by
Invision Power Board
v1.3 Final © 2003
IPS, Inc.
Page creation time:
0.1074
seconds |
Archive