]
NEWS
HOME
ĐĂNG KÍ
ĐĂNG NHẬP
GIÚP ĐỠ
THÀNH VIÊN
LỊCH
CHỨC NĂNG
THOÁT
·
Portal
Help
Search
Members
Calendar
Welcome Guest (
Log In
|
Register
)
Resend Validation Email
WEB ĐĂ CHUYỂN SANG http://lsvaqs.plus.vn XIN CẢM ƠN!
Lsvnonline
THƯ VIỆN DIỄN ĐÀN
Thư viện Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
Tài Khoản:
Mật Mă:
Nhớ mật khẩu?
T̀NH H̀NH CỦA DIỄN ĐÀN TA RA SAO
Cá Nhân
Các Pác Spam Nhiều Nhất
Bài viết mới
Username:
Password:
Nhớ mật khẩu?
Xin chờ đợi...
Xin chờ đợi...
Dạy văn, học văn, Phê b́nh, trao đổi
Track this topic
|
Email this topic
|
Print this topic
napal00
Posted:
Aug 3 2008, 08:44 AM
BINH NHẤT
Group: Admin
Posts: 32
Member No.: 1
Joined: 30-July 08
Tác giả: Văn hiến (Biên soạn và tuyển chọn)
Nhà xuất bản giáo dục.
Góp phần t́m hiểu thơ văn Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Sự nghiệp báo chí vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một thiên tài về nhiều mặt. Sáng tác hàng ngh́n trang chính luận, hơn 250 bài thơ, vài chục truyện, kí, tiểu phẩm, vở kịch,…nhưng Người chưa bao giờ nhận là nhà văn, nhà thơ. Ngược lại, nhiều lần bác tự nhận là nhà báo. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam (16/4/1959), bác đă hơn 20 lần thân mật tự xưng là ḿnh với báo giới và khẳng định Người có duyên nợ với báo chí.
Ngày 18/6/1919, báo Nhân Đạo dưới tiêu đề Quyền của các dân tộc đă đăng bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo gửi hội nghị Vecxai. Có thể coi đó là tác phẩm báo chí viết bằng Pháp văn đầu tiên của người.
Bản yêu sách dài khoảng 600 chữ được chuyển đến bàn đại biểu các nước đồng minh, các nghị sĩ Pháp và những nhà hoạt động chính trị có tên tuổi. Bằng tiền cá nhân, dưới dạng truyền đơn, Nguyễn Ái Quốc c̣n in 6000 bản yêu sách bằng ba thứ tiếng để phân phát trong nhiều cuộc mít tinh… Chủ trương đưa yêu sách, nội dung bản yêu sách đều do Nguyễn Ái Quốc để ra và đứng tên c̣n người viết là luật sư Phan Văn Trường. Ông Trường cùng với cụ Phan Châu Trinh rất ủng hộ nhóm “người Việt Nam yêu nươc”, nhưng vẫn có ư coi họ c̣n quá trẻ. Sau đó Phan Văn Trường c̣n giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc viết một số bài trên báo Dân Chúng. Được chủ nhiệm tờ báo khuyến khích việc gửi bài, nhưng v́ chưa đủ vốn tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc vẫn phải nhờ luật sư Phan văn Trương giúp đỡ. Ông Trường không muốn thể hiện tất cả những ǵ ông Nguyễn yêu cầu. Do vậy hơn lúc nào hết, Nguyễn Ái Quốc thấy cần phải bắt tay vào công việc học làm báo.
Sự nghiệp báo chí của Nguyễn Ái Quốc thực sự khởi sắc từ năm 1921 với hàng loạt bài đăng trên tạp chí Cộng Sản và các báo khác phát hành ở Pari. Đưa người đến với làng báo quốc tế là một đồng chí làm việc ở ṭa soạn Đời sống thợ thuyền. Đồng chí này cho biết báo có mục tin vắn, mỗi tin chỉ dài dăm ba ḍng và khuyên bác cứ mạnh dạn viết. Bác bắt tay vào việc tập viết tin ngắn. Người ghi thành hai bản, giữ lại một để đối chiếu với bài được in. Khi thấy Nguyễn Ái Quốc đă viết bớt sai, đồng chí ấy lại động viên: Bây giờ th́ có thể nâng lên mức bảy, tám ḍng… Cứ kiên tŕ như thế, Người viết được cả những bài dài mấy cột báo. Lúc đó ṭa soạn lại yêu cầu: cũng những việc làm ấy nhưng phải viết cho rơ, cho gọn. Các tờ báo mà bác gửi bài đều nghèo không có tiền trả nhuận bút. Tuy vậy, Người vẫn viết để tố cáo tội ác thực dân.
Viết được báo bằng tiếng Pháp rồi, bác muốn thử sức trong lĩnh vực tiểu thuyết. Nhưng “chữ tây vơ vẽ” thế này, “viết tiểu thuyết sao được?”. Sau đó đọc mấy cuốn truyện nhỏ của A-na-tôn Phơ-Răng-Xơ, của Lep Tôn-xtoi thấy họ viết giản dị dễ hiểu Người nghĩ có thể sáng tác được. Hàng ngày bác phải dậy sớm để viết từ 5h đến 6h30 sáng, ngồi viết mà ngón tay tê cóng. Sau cả tuần vất vả, Người hoàn thành một truyện ngắn dưới dạng thư gửi cô em họ. Đó là truyện kí phản ánh cuộc sống nghèo khổ của người lao động ở Pháp. Bác rất vui khi thấy truyện được đăng trên báo Nhân Đạo ngày 30,31/5/1922. Vui hơn nữa, Người c̣n nhận được 50 Phơ-Răng nhuận bút. Đây là lần đầu tiên, Người có tiền viết báo. Với khoản tiền này bác đủ sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ mít tinh, viết báo, xem sách…
Cứ kiên tŕ rèn luyện như thế, năm 1922 bác được Hội liên hiệp thuộc địa cử làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút và quản lư tờ báo Người cùng Khổ. Đó là diễn đàn của các dân tộc thuộc địa, vô sản thuộc địa. Số đầu tiên của báo ra ngày 1/4/1922, lúc đầu hàng tháng ra một số rồi tăng lên hai số. Có lúc mỗi ḱ phải tới 5000 tờ.
Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô báo Người cùng khổ ra không đều, đến tháng 4/1926 th́ đ́nh bản. Ở Matxcova, phóng viên tờ Tiếng c̣i mời bác gửi bài và dặn: phải viết rơ sự thật, ngắn gọn… Năm sau người ấy lại khuyên: “chớ viết khô khan, phải viết cho văn chương… Bây giờ… sinh hoạt đă cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương th́ mới thích đọc”.
Đến Hoa Nam, bác bắt đầu tập làm báo bằng tiếng Trung Quốc. Với vốn chữ Nho học ở gia đ́nh, Người phải sửa đi sửa lại bản thảo nhiều lần rồi mới chuyển đến ṭa soạn tờ Cứu vong nhật báo. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, sau khi thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, bác Hồ sáng lập báo thanh niên. Từ đây, Người bắt đầu tập viết báo bằng tiếng việt. Thanh niên là tờ báo ra hàng tuần. Từ tháng 6/1925 đến tháng 4/1927, báo ra được 88 số. Bác Hồ vừa là người phụ trách vừa là người viết nhiều bài. Thanh niên đă góp phần đáng kể vào việc tuyên truyền giới thiệu chủ nghĩa Mác-LêNin và Cách mạng tháng Mười Nga, cũng như đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Năm 1941, vừa bí mật về nước, quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-LêNin; báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động tổ chức và lănh đạo, Bác đă cho ra ngay một tờ báo. Đó là tờ Việt Nam độc lập-cơ quan tuyên truyền của tổ chức Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Người trực tiếp chỉ đạo, tham gia duyện bài, viết bài, nhiều khi c̣n làm cả nhiệm vụ in báo. Ngày trong nhưng ngày khó khăn đó, báo Việt Nam độc lập được bán tới tận các cơ sở chứ không biếu…
Từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công cho đến lúc đi xa, với nhiều bút danh khác nhau, Người vẫn thường xuyên viết bài đăng trên các báo trong và ngoài nước.
Suốt nửa thế kỉ cẩm bút, Người chỉ chuyên chú viết để chống thực dân đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội. Bác đă để lại muôn vàn tính thương yêu và những kinh nghiệm viết báo quư báu. Kinh nghiệm đó là: “không sợ khó, có quyết tâm. Không biết phải cố gắng học, gắng th́ nhất định học được”.
Đội ngũ làm báo hôm này và mai sau xin nguyện măi măi ghi nhớ công ơn và lời dạy của người.
--------------------
lor]
napal00
Posted:
Aug 3 2008, 08:44 AM
BINH NHẤT
Group: Admin
Posts: 32
Member No.: 1
Joined: 30-July 08
H́nh tượng Khải Định trong một số văn phẩm của Nguyễn Ái Quốc
Năm 1922, Chính phủ Pháp tổ chức đấu xảo thuộc địa ở Mac-xay, đưa Khải Định sang dự như một món hàng thuộc địa. Sự việc này được Nguyễn Ái Quốc phản ánh trong nhiều tác phẩm. Qua đó, h́nh tượng An Nam Hoàng Đế công du với nhiều ư nghĩa sâu sắc đă được thể hiện từ các trang viết của Người.
Khải Định sắp làm “khách của nước Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đă có lời chào mừng tí ti trên sàn diễn thị xă Gác-Sơ và báo Nhân đạo. Đó là với kịch Con rồng tre và truyện ngắn Lời than văn của bà Trưng Trắc.
Hiện nay, chưa t́m thấy văn bản Con rồng tre. Qua báo chí Pháp và hồi kí của một số người đương thời, được biết đây là vở kịch có ba hồi, đại ư: “Có những cây tre thân h́nh quằn quẹo, người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thực chất chỉ là một khúc tre. Là khúc tre nhưng lại hănh diễn có tên và h́nh dáng con rồng…”.
Kịch được công diễn lần đầu tiên này 18/6/1922. Trên báo Pari số 53 (11/6/1946), Lê-ô Pôn-đet một thành viên của ban chủ nhiệm câu lạc bộ ngoại ô Pari, nhớ lại: “tôi đă đọc tập bản thảo, thật là hay, lời văn chải chuốt, gọn gàng… kịch bản này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu. Con rồng tre-đầu đề của kịch bản, chỉ một tên vua bù nh́n, đớn hèn, bất lực và ngu dốt…”
Lời than văn của bà Trưng Trắc ghi lại giấc mộng của Khải Định. Vị vua bà khai sáng nước Nam hiện về trong cơn mơ và đương kim An Nam hoàng đế đă phải nhận đủ lời phê phán, chê trách nghiêm khắc. Mượn lời Trưng Trắc, Nguyễn Ái Quốc cho công chúng Pháp thấy Khải Định không đủ tư cách đại diện cho ai; y là kẻ ươn hèn, “bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải h́nh ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ, bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma”. Lần này, hắn đi Pháp để ca ngợi kẻ bóc lột, ức hiếp đồng bào ḿnh…
Khi Khải Định thả sức ăn chơi ở xứ lạ, báo Người cùng khổ cho đăng Khai hóa giết người và “Sở thích đặc biệt”.
Khai hóa giết người ghi lại tội ác tày trời của một tên thực dân và cái chết thê thảm của anh Lê Văn Tài-công nhân Việt Nam. Kể câu chuyện có thật trên đây, Nguyễn Ái Quốc nêu câu hỏi: “Trong lúc ở Macxay, người ta triển lăm cảnh phồn thịnh giả tạo của xứ Đông Dương th́ ở An Nam đang có những người bị chết đói. Ở bên này người ta ca tụng ḷng trung thành c̣n ở bên kia-người ta đang giết người. Như vậy nghĩa là thế nào hỡi Đấng chí tôn Khải Định…?.
“Sở thích đặc biệt” là một tác phẩm dí dỏm, hài hước. Vận dụng nghệ thuật chơi chữ Việt Nam vào văn chương Pháp, Nguyễn Ái Quốc hé mở cho giới buôn son bán phấn biết Khải Định mắc bệnh bất lực. Tuy vậy, ông vua này vẫn có “sở thích đặc biệt”-“thích xem” và chỉ có khả năng xem, (ngắm nghía th́ c̣n tệ hơn sờ mó)
Thấy hiệu quả chính trị, kinh tế của việc đưa Khải Định sang Khải Định không được như mong muốn, Chính Phủ Pháp vội đẩy y về quê sớm hơn dự kiến. Tiễn Hoàng thượng đồng hương, Nguyễn Ái Quốc có Thư gửi Khải Định. Thư nêu vấn đề: “…ngoài mấy con ngựa cái ở trường đua Lông-Săng cùng những vẻ đẹp cổ đại của nhà hát Ô-Pê-Ra th́ ngài đă thấy ǵ trong suốt thời gian “tham quan” của Ngài ở cái nước Pháp lạc thú này?”.
Khải Định về nước, Nguyễn Ái Quốc vẫn c̣n tiếp tục công bố thêm ba tác phẩm nữa:
-Vực thẳm thuộc địa ghi lại một phần tốn kém trong chuyến Pháp du của Hoàng Đế. Chờ ngày tốt đưa con rồng nan đi, Nam triều phải bồi thường cho chủ tàu 400000 phơ-răng; huy động lính Khố xanh bồng súng đón chào hết 77000 phơ-răng…
-Khải Định c̣n được nói đến ở chương VI-“tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị” (Bản án chế độ thực dân Pháp).
-Giá trị nhất trong các tác phẩm có nói đến Khải Định là “Vi hành”-một bức thư gửi cô em họ. Với người phương tây, thư cho em họ rất có thể là thư t́nh…
Tại sao Nguyễn Ái Quốc viết về Khải Định nhiều như vậy? “Vi hành” được sáng tác tác trong hoàn cảnh nào, với mục đích ǵ?. Xin nêu vài câu trả lời:
Thực tế th́ “Vi hành” đăng trên báo Nhân đạo (19/2/1923) khi Khải Định đă về nước hơn nửa năm, chứ không phải đúng vào dịp Khải Định…sang dự đấu xảo.
Đây là mục đích chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc khi sáng tác “Vi hành” ? Theo chúng tôi, khởi thảo văn phẩm này, Nguyễn Ái Quốc cùng lúc hướng tới 5 mục đích:
-Vạch trần bộ mặt bịp bợm, xảo trá, giả dối của thực dân Pháp.
-Giúp công chúng Pháp hiểu t́nh h́nh thực tế thuộc địa. Theo anh Nguyễn, hiểu biết về thuộc địa của nhiều quan chức, thanh tra Pháp cũng giống như hiểu biết của họ về mặt trăng; chỉ cần ở thuộc địa một thời gian, họ sẽ thấy so với thực dân, kẻ cướp vẫn là người nhân đạo.
-Gián tiếp tranh luận với bọn bồi bút Pháp-Việt đang ra sức rung chuông gơ mơ cổ vũ cho chuyến Khải Định công du. Đương thời, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh đă bôi lên báo đủ thứ để lấp kín chuyên mục Pháp du hành tŕnh nhật kí.
-Đả kích Khải Định cam tâm làm tay sai cho Pháp.
-Phê phán thái độ ḱ thị chủng tộc.
Qua 8 tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, Khải Định đă trở thành một nhân vật hi hữu trong văn chương Việt Nam viết bằng tiếng Pháp.
--------------------
lor]
napal00
Posted:
Aug 3 2008, 08:45 AM
BINH NHẤT
Group: Admin
Posts: 32
Member No.: 1
Joined: 30-July 08
Năm Quư Mùi của Hội Trước Bác Hồ ăn tết ở đâu?
Đúng thứ bảy ngày 29 tháng 8 năm 1942 (tức ngày 18 tháng 7 năm Nhâm Ngọ), trên đường đi Trùng Khánh, Trung Quốc để hội đàm, Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại phố Túc Vinh (nay thuộc huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây). Sau khi cùm chân, biệt giam Người 40 ngày, khi cả nước Trung Hoa đang nhảy múa tưng bừng đón mừng quốc khánh, nhà cầm quyền Tĩnh Tây được lệnh giải Hồ Chí Minh đến Liễu Châu giao cho cục chính trị chiến khu IV thẩm vấn. Ngày ấy Tĩnh Tây cách Liễu Châu chừng 600km; ra đi từ ngày 10/10/1942 (Tết song thập bị giải đi Thiên Bảo), qua các nhà lao: Thiển Bảo, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Lai Tân, ngày 9/12/1942 (tức là mồng 2 tháng 11 năm Nhâm Ngọ), bọn lính đưa Bác Hồ đến Liễu Châu.
Muôn cay ngh́n đắng đâu vô hạn,
Mồng chín, ta vừa đến Liễu Châu. (Đến Liễu Châu)
Ban đầu, bác cứ tưởng Liễu Châu là cửa ải cuối cùng, “Ngày tự do âu cũng chẳng chầy”. Nào ngờ bọn Quốc Dân Đảng vẫn giam hoài, giam măi, chẳng hỏi han, tra xét ǵ… Nóng ḷng sốt ruột, Người phải nêu câu hỏi:
Thuốc đắng, cạn liễu càng thấy đắng,
Đường gay, cuối chặng lại thêm gay;
Dinh quan chỉ cách đây chừng dặm,
Sao măi giam ta ở chốn này? (Giam lâu không được chuyển)
“Cái chốn này” mà bác Hồ nói đến chính là hang đá Phan Long (ngục Liễu Châu). Hang nằm trên lưng chừng một dăy núi. Chính quyền Tưởng đă biến nơi đây thành một thứ “chuồng cọp” để giam giữ những người tù cộng sản Trung Quốc mà chúng coi là nguy hiểm nhất. Cửa hàng xây tường đá dày tới một mét, có cánh nhỏ làm bằng những thanh sắt tṛn rất to (ngày nay, nhân dân Trung Quốc c̣n bảo tồn nguyên vẹn di tích này). Mùa đông ở Liễu Châu rất rét, trong hang càng lạnh. Mấy chục năm sau, có dịp qua đây, nhà thơ Tố Hữu vẫn xao xuyến, xúc động:
Tàu qua ga Liễu Châu
Bác xưa tù nơi đâu
Đêm rét tê xiềng xích
Thương nước, dài tóc râu. (Qua Liễu Châu)
Trong hang đá Phan Long, nỗi “buồn bực” v́ “giam lâu không được chuyển” cùng với lam chướng ngh́n trùng khiến Bác rất mệt mỏi, căng thẳng. Thơ tù đă sáng tác 99 bài rồi… vậy mà bài thứ 100, sau khi viết xong 3 chữ tiêu đề Liễu Châu ngục, Người đành bỏ dở…
Hồ Chí Minh bị giam 20 ngày trong ngục Phan Long th́ tết Dương Lịch năm 1943 cũng vừa đến. Ở thời điểm này, kiểm lại 120 ngày tê tái gông cùm đă qua, Người viết:
Bốn tháng thường ăn đói,
Bốn tháng ngủ không yên,
Bốn tháng áo không thay,
Bốn tháng không tắm gội.
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc,
Tóc bạc mất nhiều phần,
Đen gầy như quỷ đói,
Lại lở loét toàn thân. (Bốn tháng rồi, bản dịch của Trần Đắc Thọ)
Chờ măi, bọn lính cũng phải đưa Bác đến dinh quan trưởng để gặp Trương Phát Khuê-Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khu. Viện trung ương đầy quyền hành này quyết định chuyển Hồ Chí Minh đi Quế Lâm-thủ phủ tỉnh Quảng Tây ở Liễu Châu lại tiếp tục giải Bác. Qua những vần thơ, ta biết thời gian này, Người đang ốm nặng. Bài thơ đầu tiên hoàn tất ở nhà tù Quế Lâm thấm đẫm nỗi buồn tê tái:
Quế Lâm không quế, không rừng,
Sông sâu thăm thẳm, trập trùng núi cao;
Bóng đa đè nặng nhà lao,
Đêm sao lặng ngắt, ngày sao tối sầm. (Đến Quế Lâm)
Tù nhân vào nhà lao Quế lâm phải nộp đủ thứ tiền, kể cả tiền đèn thắp sáng. Là người xa xứ, không ai tiếp tế, đi đâu bác cũng gặp phiền phức. Bốn mươi ngày đầu tiên của năm 1943, chúng giam Hồ Chí Minh tại nhà ngục Quế Lâm, nỗi khổ ở đây không sao kể hết; vậy mà liền sau đó, bọn chúng lại quyết định chuyển Người về Liễu Châu:
Không đâu khổ đă bốn mươi ngày,
Bốn chục ngày qua xiết đọa đày;
Nay lại giải về Liễu Châu nữa,
Khiến người đă bực lại buồn thay
Ở Quế Lâm, Người chỉ viết bốn bài thơ, trong đó, hai bài có tiêu đề là dấu chấm hỏi (?) và dấu chấm cảm (!). Những ngày cuối cùng Bác Hồ bị giam tại Quế Lâm cũng là lúc mọi người đang đón tết Quư Mùi.
Khoảng 10/2/1943 (mồng 6 tháng giêng năm Quư Mùi), khi thành phố Quế Lâm hạ cây nêu, tiễn biệt những ngày Tết náo nhiệu th́ một nhân viên đặc vụ của chính quyền Tưởng Giới Thạch được lệnh chuẩn bị giải Hồ Chí Minh về ngay Liễu Châu lại một đoạn đường dài 300km nữa đang ở phía trước. Lần này, Người rời Quế Lâm với tâm sự:
Quảng Tây đi khắp, ḷng oan ức,
Giải đến bao giờ, giải tới đâu?
Vui xuân, ôn lại những ngày tết gian khổ mà Bác Hồ đă trải qua trong tù ngục, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Người.
--------------------
lor]
0 User(s) are reading this topic (0 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:
«
Next Oldest
|
Thư viện Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
|
Next Newest
»
Close Topic Options
Track this topic
Receive email notification when a reply has been made to this topic and you are not active on the board.
Subscribe to this forum
Receive email notification when a new topic is posted in this forum and you are not active on the board.
Download / Print this Topic
Download this topic in different formats or view a printer friendly version.
Forum Jump
------------
Văn Pḥng Diễn Đàn
- Thông Báo
- Nội Quy
- Bảng vàng - Sổ Đen
- Thắc mắc - Góp ư - Ư tưởng
- Thông Báo Khoá Nick - Xoá Bài Viết
VIỆN NGHIÊN CỨU
- Viện Nghiên Cứu Lịch Sử.
- Viện Nghiên Cứu Quân Sự.
- Viện Nghiên Cứu Văn Hóa
- Viện Nghiên Cứu Các Vấn Đề Chính Trị.
- Viện Nghiên Cứu Triết Học.
THƯ VIỆN DIỄN ĐÀN
- Thư viện Lịch Sử Việt Nam.
- Thư viện Lịch Sử Thế Giới.
- Nhân Vật Lịch Sử.
- Thư viện Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
- Thư viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam.
- Thư viện Khoa Học.
DIỄN ĐÀN QUÂN SỰ.
- Lịch Sử Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam.
- Lịch sử Quân sự Việt Nam
- Lịch Sử Quân Sự Thế Giới.
- Khoa Học Quân Sự.
GIẢI TRÍ SAU DIỄN ĐÀN.
- Kết Bạn - Tán Gẩu
- Truyện - Chuyện cười
- Game - Music
- Tâm Sự
- Thể Thao
<% STATISTICS %>
Hosted for free by
InvisionFree
(
Terms of Use: Updated 7/7/05
) | Powered by
Invision Power Board
v1.3 Final © 2003
IPS, Inc.
Page creation time:
0.1976
seconds |
Archive